Các tin tức nổi bật về tim mạch trong tuần qua (19 – 27.11.2025)

Đặt stent trong điều trị bệnh nhân hẹp động mạch cảnh không có triệu chứng thể hiện được lợi ích so với phẫu thuật hoặc điều trị nội khoa qua theo dõi lâu dài ở Nghiên cứu CREST-2

“Sự chờ đợi lâu dài đã mang lại kết quả ủng hộ việc đặt stent cho bệnh nhân hẹp động mạch cảnh không triệu chứng” - kết quả song song của thử nghiệm CREST-2, đăng trên tạp chí NEJM. Brott TG, Howard G, Lal BK, et al. Medical management and revascularization for asymptomatic carot...

Chia sẻ Facebook LinkedIn Zalo
Đặt stent trong điều trị bệnh nhân hẹp động mạch cảnh không có triệu chứng thể hiện được lợi ích so với phẫu thuật hoặc điều trị nội khoa qua theo dõi lâu dài ở Nghiên cứu CREST-2

Nội dung:

Chia sẻ nội dung này trên: Facebook

“Sự chờ đợi lâu dài đã mang lại kết quả ủng hộ việc đặt stent cho bệnh nhân hẹp động mạch cảnh không triệu chứng” - kết quả song song của thử nghiệm CREST-2, đăng trên tạp chí NEJM. Brott TG, Howard G, Lal BK, et al. Medical management and revascularization for asymptomatic carotid stenosis. N Engl J Med. 2025;Epub ahead of print.

Thiết kế

  • Hai RCT song song:
    • Thử nghiệm stent + điều trị nội khoa tích cực vs điều trị nội khoa đơn thuần (1.245 BN, tuổi TB ~69; 38% nữ; theo dõi trung vị 3,6 năm).
    • Thử nghiệm phẫu thuật bóc tách nội mạc mạch cảnh (CEA) + nội khoa vs nội khoa (1.240 BN, tuổi TB ~70; 37% nữ; theo dõi 4,0 năm).
  • Đối tượng: hẹp ĐMC cảnh ≥70%, không triệu chứng, được điều trị nội khoa tối ưu.
  • Tiêu chí chính: biến cố kết hợp đột quỵ não hoặc tử vong quanh thủ thuật (44 ngày) + đột quỵ thiếu máu cục bộ bên tổn thương về sau.

Kết quả chính

  • Nhánh stent:
    • Chênh lệch tuyệt đối 3,2% về biến cố chính, có lợi cho can thiệp → NNT ≈ 31.
    • Trong 44 ngày quanh thủ thuật: 0% đột quỵ/tử vong ở nhóm nội khoa, 1,3% (7 stroke + 1 death) ở nhóm stent.
    • Sau 44 ngày: tỉ lệ đột quỵ thiếu máu bên tổn thương 1,7%/năm (nội khoa) vs 0,4%/năm (stent).
  • Nhánh CEA:
    • Chênh lệch 1,6% có lợi cho CEA nhưng không có ý nghĩa.
    • Stroke quanh thủ thuật cao hơn với CEA (1,5% vs 0,5%).
    • Sau 44 ngày: đột quỵ thiếu máu bên tổn thương 1,3%/năm (nội khoa) vs 0,5%/năm (CEA).
  • Tỉ lệ biến cố tổng hợp dài hạn (periprocedural + hậu thủ thuật) rất thấp ở cả hai can thiệp (≈1,4–1,6%/năm).

Kết luận

  • Ở bệnh nhân hẹp cảnh ≥70% không triệu chứng đang được điều trị nội khoa tích cực, stent cảnh đem lại lợi ích đáng kể về giảm đột quỵ so với chỉ nội khoa; CEA thì không chứng minh được lợi ích rõ ràng so với nội khoa.

Nhận định chuyên môn và Ứng dụng lâm sàng

Bình luận chuyên gia

  • Martin Brown, MD (University College London) cho rằng kết quả nhất quán với bằng chứng trước về thiếu lợi ích rõ rệt của CEA thường quy ở bệnh nhân không triệu chứng; ông xem dữ liệu CREST-2 là “rất ấn tượng” với stent nhưng lưu ý rằng chỉ cần thêm hoặc bớt vài biến cố là có thể mất ý nghĩa thống kê, nên cần diễn giải thận trọng.
  • Tudor Jovin, MD gọi đây là thử nghiệm “có tính bước ngoặt” cho điều trị hẹp cảnh không triệu chứng.

Ứng dụng lâm sàng

  • Với BN hẹp cảnh nặng không triệu chứng, điều trị nội khoa tối ưu vẫn là nền tảng.
  • Có thể cân nhắc stent cho BN phù hợp giải phẫu/nguy cơ phẫu thuật; CEA thường quy cho tất cả BN không triệu chứng có thể không còn chỗ đứng như trước.
  • Quyết định nên cá thể hóa dựa trên tuổi, nguy cơ can thiệp, kỳ vọng sống và sở thích bệnh nhân.
Quay lại trang trước
Chia sẻ Facebook LinkedIn Zalo

Cùng chuyên mục

Bài viết khác